Foto- songhuuco.vn

ASEAN và chiến lược mới về phát triển sản xuất lương thực bền vững

Các sản phẩm hữu cơ ngày càng được yêu thích

Xu hướng thực phẩm lành mạnh toàn cầu cho thấy, sản xuất thực phẩm hữu cơ đang trên đà phát triển ở các nước ASEAN. Có ba yếu tố đã thúc đẩy sự phát triển này:

1. Thay đổi canh tác kiểu truyền thống sang canh tác kiểu công nghiệp.
2. Những ảnh hưởng xấu đến súc khỏe cộng đồng.
3. Lối sống mới với nhận thức cao về thực phẩm.

Sản xuất hữu cơ còn rời rạc, mới đang trong quá trình phát triển và bị giới hạn tầm ảnh hưởng. Sản xuất hữu cơ có liên quan đến các cơ quan xã hội dân sự liên kết với các doanh nghiệp; đồng thời được thể chế hoá trong phạm vi các nhóm người tiêu dùng, hội nhà nông, chợ nông sản, cửa hàng y tế, các chương trình giao hàng và các nhóm làm vườn đô thị (Hội Nông dân châu Á). Mục tiêu chung là “tăng cường và hướng tới phong nông nghiệp sinh thái ở châu Á” bằng cách đạt được trạng thái lành mạnh cả về môi trường và xã hội (Hướng tới Châu Á hữu cơ).

Việc kinh doanh một trang trại hữu cơ thường đi kèm với những chuỗi liên quan đó. Nhiều quốc gia đã tự thành lập các thương hiệu hữu cơ (ví dụ: VECO Vietnam; GOVPH). Chính phủ các nước đơn lập đã bắt đầu tham gia vào các chính sách canh tác hữu cơ, mặc dù vẫn còn một số hạn chế. Ngân sách đang được phân bổ cho đào tạo, hội thảo và tiếp thị nông nghiệp hữu cơ. Tuy nhiên, sự thành công của những biện pháp này phải được xác minh trên nhiều phương diện và điều đó là khó có thể đạt được.
 

ASEAN là một cộng đồng khu vực

Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á được thành lập vào năm 1967 với ý tưởng về sự thống nhất khu vực thực sự và có tính biểu tượng, hiệp hội nắm bắt được các đặc điểm và nguyện vọng riêng biệt của từng thành viên. Hiệp hội cuối cùng đã mở rộng cam kết của mình để công bố chính thức về cộng đồng ASEAN vào năm 2015. Nhân dịp kỷ niệm lần thứ 50, Hiệp hội đá công bố nguyên tắc và mục đích mới của mình. Họ nhấn mạnh: trách nhiệm xã hội và đoàn kết giữa các thành viên trong việc đạt được “nhận thức chung”, “một xã hội quan tâm và chia sẻ” “nơi mà hạnh phúc, sinh kế và phúc lợi của nhân dân được nâng cao”.

Nếu việc cải thiện sinh kế và phúc lợi xã hội có liên quan trực tiếp đến lương thực và nông nghiệp, thì có thể lập luận rằng, việc canh tác bền vững và nông nghiệp hữu cơ phù hợp với nguyện vọng của ASEAN. Sư suy dinh dưỡng được ghi nhận ở nhiều nước ASEAN và hầu hết các quốc gia đều phải đối phó với vấn đề thực phẩm kém dinh dưỡng. Do đó, mọi động thái cần phải hướng vào việc đảm bảo thực phẩm cả về chất và lượng. Khung an ninh lương thực và kế hoạch hành động tích hợp là một động thái ứng phó với cuộc khủng hoảng kinh tế 2007/2008, được đưa ra năm 2009, có tính đến sinh kế của nông dân, sản xuất lương thực bền vững và thúc đẩy nông nghiệp dinh dưỡng. Trong bối cảnh này, điều đó ám chỉ canh tác hữu cơ là một yếu tố trong nông nghiệp thông minh và tổng quan an ninh lương thực, mặc dù không được chỉ rõ.
 

Hệ thống nông nghiệp cho việc canh tác hữu cơ

“Thái Lan đã nhận được sự hỗ trợ của Ngân hàng Thế giới trong những năm 1960 để tăng cường […] nông nghiệp đơn canh thông thường. Sản lượng tăng lần đầu nhờ áp dụng phân bón hóa học và thuốc trừ sâu trên đồng ruộng. […] Thật vậy, từ những năm 1970, nông dân bắt đầu chuyển sang các giống cây trồng, vật nuôi mới và sử dụng phân bón đồng thời đặt mục tiêu doanh số theo các mô hình phát triển nông nghiệp mới, cũng như thực hiện khoản vay đầu tiên để đầu tư. Một tuyến xe lửa được thành lập kết nối Bangkok với Chiang Mai tạo điều kiện cho sự lan rộng của các loại hóa chất nông nghiệp ở phía Bắc [...]. Nông nghiệp thông thường ngày nay không còn hiệu quả nữa và sẽ sớm sụp đổ nếu hệ thống hiện tại tiếp tục tồn tại ”.

Trên thực tế, điều này phản ánh hiện trạng thường thấy ở các nước ASEAN khác, và chưa có chiến lược chung về phong trào phát triển thực phẩm bền vững nào được hình thành.

Trong sự thúc giục chuyển đổi sang các chiến lược thay thế, nhiều nông dân không dễ bị thuyết phục, họ điều chỉnh canh tác của mình theo cơ hội thị trường và nhận thấy canh tác hữu cơ là đầy thử thách. Dù vậy, một số nông dân đã nhận thấy lợi ích lâu dài của việc chuyển sang phương án thay thế hữu cơ.

Mặc dù các quốc gia có khả năng sản xuất lương thực tại địa phương, nhưng tỷ trọng thực phẩm nhập khẩu là rất đáng chú ý. Với Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC), việc mở cửa thị trường Đông Nam Á khuyến khích nhập khẩu nhiều hơn, bởi giá thành rẻ hơn, có thể ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh trên thị trường của nông dân địa phương. Theo nghĩa này, canh tác hữu cơ có thể là cơ hội cho người nông dân bởi triển vọng về giá cả phù hợp tại thị trường địa phương và sự tự chủ cho bản thân người nông dân.
 

Thực phẩm và việc nâng cao mối quan tâm về sức khỏe

Sự sẵn có của thực phẩm là nhân tố có liên quan bởi ở các nước châu Á thì rất dễ mua đồ ăn từ các nhà hàng hay những người bán rong. Người tiêu dùng do đó phụ thuộc vào việc thực phẩm có sẵn, điều liên quan đến thói quen ít nấu ăn tại nhà của người dân thành thị. Ở nông thôn, người nông dân thường nuôi “gà sạch” để cho nhà ăn, kể cả họ có đất trống, nhưng có một sự thực phổ biến là, rất ít người nông dân có đủ thời gian và không gian để tự trồng trọt cho nhu cầu của chính mình.

Việc sử dụng nhiều hóa chất nông nghiệp trong sản xuất lương thực làm gây ảnh hưởng xấu đến người nông dân và sức khỏe người tiêu dùng. Các phong trào canh tác hữu cơ trên toàn ASEAN chính là câu trả lời thích hợp, nhưng tầm quan trọng của chúng vẫn còn nhỏ.

Nguồn cung của các sản phẩm hữu cơ là vô cùng đa dạng, từ chợ nông sản, các dịch vụ phân phối vận chuyển đến các siêu thị. Các loại giấy chứng nhận thường được yêu cầu ở siêu thị, tuy nhiên, cả khách hàng lẫn người cung cấp đều thích sự đảm bảo được xây dựng trên lòng tin hơn. Nếu sản phẩm hữu cơ không có giấy chứng nhận, thì về cơ bản chúng sẽ được bán ở các chợ địa phương hoặc phân phối nội địa. Trừ Singapore không thể tự cung cấp đủ lương thực ra, thì hình thức thương mại pan – ASEAN với các sản phẩm hữu cơ là không phổ biến.

Một tiêu chuẩn hữu cơ chung cho các nước châu Á đã được đưa ra. Điều đó tạo cơ sở tương đương cho những tiêu chuẩn đa dạng trong khu vực. cho sự trao đổi giữa các thị trường và sự công nhận trên toàn cầu. ASOA gần đây đã được xem xét, bao gồm cả hệ thống ghi nhãn. Đây là những phương pháp đặc biệt được yêu càu cho những sản phẩm hữu cơ, như kiểm định chất lượng đất, nước và hệ thống cây trồng. Một quan điểm đối lập với điều đó là, chứng nhận hữu cơ ASEAN có xu hướng nâng cao giá sản phẩm và do đó làm mất các nhóm người tiêu dùng tiềm năng.

Nguồn: ​th.boell.org


Foto- songhuuco.vn