Foto- songhuuco.vn

I-Nature: Doanh nghiệp đưa mô hình nông nghiệp khép kín không hóa chất vào Việt Nam

I-Nature được ươm tạo như một sáng kiến nghiên cứu, thử nghiệm về mô hình khép kín sản xuất - cung ứng thực phẩm hữu cơ từ đồng ruộng đến bàn ăn.

I-nature là một doanh nghiệp xã hội được đặt nền móng từ năm 2011 thông qua Dự án Đổi mới Sản phẩm Bền vững (SPIN), nhóm nông nghiệp bền vững i-Nature được ươm tạo như một sáng kiến nghiên cứu, thử nghiệm về mô hình khép kín sản xuất – cung ứng thực phẩm hữu cơ từ đồng ruộng đến bàn ăn phù hợp với điều kiện địa phương tại Việt Nam. Từ đó, đáp ứng nhu cầu cấp bách của xã hội trong vấn nạn lạm dụng hóa chất trong tất cả các khâu từ sản xuất tới chế biến, phân phối dẫn đến tình trạng thực phẩm bẩn tràn lan.

Kể từ năm 2014, nhóm I-Nature tiếp tục hoạt động với sự hỗ trợ của Trung tâm Nghiên cứu Tư vấn Sáng tạo và Phát triển bền vững (CCS), chú trọng vào hoạt động nghiên cứu chuyên sâu mô hình nông nghiệp khép kín không chất thải.

Năm 2016, sau 2 năm tập trung nghiên cứu, Công ty CP Công nghệ nông nghiệp hữu cơ I-Nature chính thức trở thành một start-up được thành lập bởi Chị Phạm Như Trang – cử nhân tốt nghiệp trường Đại học Nông Nghiệp Việt Nam, Anh Đoàn Minh Quang – chuyên gia công nghệ khí hóa sinh khối và chị Lê Thị Thu Vân – tốt nghiệp ngành Luật Quốc tế tại Nhật Bản.

Sống hữu cơ đã có buổi trao đổi với chị Thu Vân – một trong ba thành viên gắn bó với I-Nature từ những ngày đầu thành lập để tìm hiểu thêm về mô hình này.

PV: Ý tưởng xây dựng nên I-nature bắt nguồn từ đâu?

– Từ những năm 2011, mặc dù vấn nạn thực phẩm bẩn mới chỉ nhen nhóm, nhưng chúng tôi đã nhận thấy tác động của chúng tới sức khoẻ lâu dài của con người. Gia đình chị Phạm Như Trang đã làm nghề nông từ rất nhiều năm nay. Chị trực tiếp chứng kiến thực trạng sử dụng phân bón hoá học, lam dụng thuốc BVTV bởi người dân chưa có nhiều kiến thức.

Ý tưởng của I-nature xuất phát từ thất bại trong việc thuyết phục gia đình, bà con ngừng sử dụng hoá chất trong canh tác, và từ vấn nạn thực phẩm bẩn đang tràn lan trên thị trường – một trong những nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ ung thư đang gia tăng ở Việt Nam.

PV: Các bạn phải chững lại 2 năm đề đầu tư vào nghiên cứu mô hình nông nghiệp khép kín không chất thải. Vậy cụ thể mô hình này là gì và vì sao phương thức này lại đảm bảo chất lượng thực phẩm là “hữu cơ”?

Mô hình nông trại hữu cơ không chất thải của chúng tôi dựa trên nguyên lý tuần hoàn vô hạn các vật chất hữu cơ, sao chép phương thức vận hành của tự nhiên. Đó là vòng tuần hoàn khép kín và tôn trọng sự đa dạng sinh học. Thông qua việc liên kết đa chiều các hợp phần canh tác hữu cơ và công nghệ:

1.Đất: phục hồi và duy trì độ phì nhiêu và dinh dưỡng của đất. Đây là thành tố quan trọng nhất, làm nền tảng cho sự đa dạng và cân bằng sinh học cũng như sự quay vòng vật liệu giữa các khâu trồng trọt và chăn nuôi. Dinh dưỡng lành mạnh và dồi dào trong đất chính là nền móng để hiện thực hóa thành các giá trị trong sản phẩm rau, củ, quả, hoa, gia vị, nấm, thịt cá, xuất bán ra thị trường.

Các công nghệ và kỹ thuật cải tạo đất bao gồm bổ sung phân hữu cơ, than sinh học, hỗ trợ các sinh vật có ích, chống xói mòn và bạc màu, trồng cây họ đậu, che phủ- phơi đất, luân canh hợp lý…

2.Tự sản xuất phân bón hữu cơ: thay thế hoàn toàn các loại phân bón hóa học bằng phân bón hữu cơ chất lượng cao từ các công nghệ ủ cao nhiệt (thermophilic), bokashi than sinh học, phân trùn quế (vermicompost), ủ bằng EM trên nền chuồng, ủ từ nguyên liệu bã nấm hay ủ phân ưa nhiệt các loại chất thải sinh hoạt.

3.Trồng trọt: trồng các loại rau, củ, quả, hoa cho sản phẩm xuất bán, phần còn lại dùng làm thức ăn chăn nuôi hoặc ủ phân. Các kỹ thuật và công nghệ hỗ trợ trồng trọt bao gồm điều chế dung dịch dinh dưỡng, chế phẩm kích thích tăng trưởng tự tạo tại chỗ từ trùn quế hoặc ấu trùng ruồi lính đen (BSF), bón phân hữu cơ, luân canh, bán canh (companion), các loại thuốc bảo vệ thực vật tự chế, thuốc trừ sâu sinh học.

4.Tự tạo thức ăn chăn nuôi tại trang trại: Ngô, khoai lang, sắn cao sản, cám, chùm ngây từ khâu trồng trọt, phế phụ phẩm từ cây trồng, cỏ dại hay chất thải động vật là những nguồn lý tưởng để tự tạo ra thức ăn chăn nuôi trong trang trại. Cần áp dụng các công nghệ hỗ trợ để thức ăn chăn nuôi có chất lượng tốt, bảo quản được lâu, chi phí thấp, đảm bảo sự tăng trưởng lành mạnh của vật nuôi. Các công nghệ này bao gồm: lên men vi sinh; nuôi ấu trùng BSF, ốc hay trùn quế để bổ sung đạm và vi chất; pha trộn, ép viên và làm chín bằng máy chế biến thức ăn theo công thức tối ưu cho từng vật nuôi và giai đoạn nuôi.

5.Chăn nuôi: vật nuôi được thả cho tự tìm thức ăn hoặc nuôi trên nền đệm lót sinh học, sử dụng thức ăn tự tạo tại chỗ và áp dụng các biện pháp phòng chữa bệnh hại tự nhiên kết hợp với thú y công nghệ cao.

Phương thức này đảm bảo:

– Đất có nhiều dinh dưỡng, thích hợp, không gần nguồn nước bị ô nhiễm, không gần nguồn rác thải sinh hoạt.  

– Phân hoàn toàn hữu cơ

– Chúng tôi đang trong quá trình lấy chứng nhận hữu cơ của Canada, canh tác phải đáp ứng được tiêu chuẩn 5 KHÔNG: Không phân bón hóa học, không thuốc bảo vệ thực vật hóa học, không chất kích thích tăng trưởng, không chất biến đổi gen, không chất bảo quản.

PV: Ngoài công nghệ được áp dụng trong khâu trồng trọt và chăn nuôi nêu trên, các bạn còn áp dụng công nghệ gì trong quy trình vận hành sản xuất?

– Cụ thể, chúng tôi áp dụng gói 20+ công nghệ sạch vào sản xuất. Gói 20 các công nghệ được sử dụng linh hoạt trên 5 hợp phần:  Trồng trọt, thực ăn chăn nuôi, chăn nuôi, quản lý cải tạo đất, phân bón. Ngoài những công nghệ chính nêu trên, chúng tôi còn áp dụng 3 công nghệ sau:

1. Công nghệ khí hóa sinh khối cung cấp nguồn năng lượng sạch và rẻ từ các phế phẩm trong chăn nuôi cho sưởi ấm chuồng trại, chế biến thức ăn chăn nuôi, đun nấu, sấy nông sản, thanh trùng giá thể, làm nấm; đồng thời là nguồn cung cấp than sinh học (biochar) để cải tạo đất, làm nền chuồng sinh học, phân bón, lọc nước và bổ sung khoáng cho chăn nuôi.

2. Cơ giới hóa các khâu tưới nước, làm đất, làm phân bón, chế biến thức ăn chăn nuôi, sơ chế nông sản, giết mổ.. giúp giải phóng lao động, tăng năng suất và giảm chi phí.

3. Tự động hóa và giám sát online, thu thập thông tin liên tục thời gian thực sử dụng các thiết bị IoT (Internet of Things) hỗ trợ quản lý, truy xuất nguồn gốc và chứng chỉ hữu cơ được công nhận quốc tế.

PV: Mô hình này với mô hình canh tác thông thường đã có những khác biệt rõ rệt, nhưng với nền canh tác hữu cơ đang được các doanh nghiệp áp dụng hiện nay thì có những lợi ích đặc biệt nào?

– Hiện tại, I-Nature có thể sản xuất với chi phí thấp hơn khoảng 30% so với giá thành của các sản phẩm hữu cơ trên thị trường, phù hợp ngay cả với những người có thu nhập trung bình. Sở dĩ sản phẩm của chúng tôi có khả năng giảm thiểu chi phí như vậy là nhờ vào:

(1) Mô hình sản xuất khép kín, với chất thải của khâu này là đầu vào của khâu khác, vận hành dựa trên các quy luật tự nhiên và cân bằng sinh thái. Do đó hầu như không có chi phí đầu vào cho phân bón và thức ăn chăn nuôi.

(2) Gói hơn 20 công nghệ sạch có chi phí thấp nhưng hiệu quả cao phục vụ các khâu khác nhau trong quá trình sản xuất. Công nghệ và kỹ thuật không ngừng được cải tiến và đổi mới.

Về môi trường, không chỉ thuốc trừ sâu, phân hóa học, chất kích thích tăng trưởng, chất tạo nạc và kháng sinh trong thức ăn bị loại bỏ hoàn toàn, mà các loại khí gây biến đổi khí hậu (GHGs) cũng giảm mạnh so với canh tác vô cơ nhờ sự hồi phục đa dạng sinh học và độ phì nhiêu của đất.

PV: Những khó khăn ban đầu các bạn gặp phải là gì?

– Những vất vả thời gian đầu thì rất nhiều nhưng khó khăn nhất, cũng như hầu hết những cá nhân, tổ chức làm nông nghiệp hữu cơ gặp phải đó là những rủi ro trong khâu canh tác, sản xuất. Vì không sử dụng bất cứ chất hoá học nào nên việc phát hiện bệnh sớm cho cây rất quan trọng. Hỗn hợp diệt phòng ngừa bệnh, diệt côn trùng tự chế tử nguyên liệu thiên nhiên như ớt, gừng, tỏi chỉ hiệu quả khi bệnh còn mới. Một khi bệnh và trứng côn trùng phá hoại đã phát triển mà không phát hiện kịp, thì buộc chúng tôi phải loại bỏ. Yếu tố môi trường cũng là trở ngại trong thời gian đầu của chúng tôi.

PV: Vấn đề hàng tồn vẫn luôn là bài toán nan giản, nhất là trong ngành kinh doanh thực phẩm. Các bạn giải quyết bài toán này như thể nào?

– Chúng tôi áp dụng các chính sách tặng quà, vừa để khách hàng biết đến sản phẩm của I-nature nhiều hơn, vừa giảm lãng phí sự dư thừa thực phẩm. Chúng tôi cũng chung tay với các đơn vị tổ chức những bữa cơm từ thiện cho những người có hoàn cảnh khó khăn. Ngoài ra, I-nature còn dùng thực phẩm tồn đọng để chuyển về trại làm phân ủ.

PV: Mô hình kinh doanh thực phẩm sạch có thể nói đang dần bão hoà, ngoài việc áp dụng mô hình nông nghiệp khép kín không chất thải, điều gì làm nên sự khác biệt giữa I-Natural và những doanh nghiệp khác?

– Nếu như hầu hết các doanh nghiệp khác thường chú trọng vào khâu sản xuất hoặc phân phối thực phẩm, thì chúng tôi hướng đến mô hình Sản xuất – Giáo dục – Chuyển giao công nghệ. Chúng tôi không chỉ dừng lại ở việc làm thương mại, mà còn muốn mang đến những kiến thức về thực phẩm, nông nghiêp và sức khoẻ đến người dân, đặc biệt là thế hệ trẻ. Chúng tôi thường tổ chức các tour thăm quan, trải nghiệm để người tiêu dung có thể trực tiếp quan sát những gì chúng tôi làm và hiểu rõ sản phẩm mà họ đang sử dụng.

Bên cạnh đó, chúng tôi cũng thường xuyên nghiên cứu về công nghệ để tăng thêm tính chuyên môn. Từ đó có thể chuyển giao công nghệ cho các dự án, đem lại giá trị cho cộng đồng. Trong 12 tháng tới, mô hình và các công nghệ hữu cơ này sẽ được chuyển giao tới các trang trại quanh khu vực Hà Nội với tổng diện tích khoảng 50ha. Các sản phẩm hữu cơ do I-Nature sản xuất sẽ được cung cấp tới 2.000 người tiêu dùng trong địa bàn Hà Nội.

PV: I-nature đang trong thời gian lấy chứng nhận hữu cơ Canada cho 2 trang trại chính ở Ba Vì và Đan Phượng. Điều này có làm tăng giá bán của sản phẩm hay không?

– Điều này không làm tăng giá sản phẩm do I-nature đã có kế hoạch chuẩn bị sử dụng nguồn vốn hỗ trợ từ các tổ chức và các quỹ đầu tư phát triển (World Bank, ODA, liên hợp quốc…)

PV: Mục tiêu trong tương lai của các bạn là gì?

– Thời gian tới, chúng tôi sẽ tiếp tục mang thực phẩm hữu cơ chất lượng tốt nhất tới bàn ăn của tất cả mọi người, kể cả những người thu nhập thấp đến trung bình. Để làm được điều này, việc tiếp tục nghiên cứu thử nghiệm các công nghệ hiện đại mới giúp tiết kiệm chi phí và tận dụng toàn bộ phế phụ phẩm nông nghiệp nhằm giảm tối đa chi phí thành sản phẩm sẽ được ưu tiên hàng đầu.

PV: Lời khuyên của I-natural cho những start-up trong ngành phát triển bền vững nói chung và nông nghiệp sạch nói riêng?

– Đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ, đặc biệt các đơn vị khởi nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp hữu cơ, phát triển bền vững, cần xuất phát từ các cá nhân cùng chia sẻ tầm nhìn, niềm đam mê thực sự, phong cách sống gần gũi thiên nhiên để có thể kiên trì, bền bỉ trước những khó khăn chủ quan và khách quan.

Nhận thực được những trở ngại đến từ năng lực của doanh nghiệp cho tới biến động của thị trường, tác động từ tự nhiên, biến đổi khí hậu… có khả năng ảnh hưởng lớn hơn nhiều đối với các doanh nghiệp kinh doanh thực phẩm hữu cơ hơn so với các ngành khác. Từ đó cùng tìm ra giải pháp, cùng chia sẻ giá trị sống bền vững sẽ trở thành tôn chỉ, sức mạnh cho doanh nghiệp trước những rủi ro rất lớn do đặc thù của ngành này.  

Bên cạnh đó, vấn đề liên kết nội bộ ngành giữa các đơn vị cung cấp, sản xuất, phân phối, hợp phần chính sách chính phủ, các đơn vị truyền thông, tư vấn, các tổ chức phi chính phủ, câu lạc bộ người tiêu dùng hữu cơ… cũng rất cần thiết.

Tuy nhiên, việc liên kết này còn rời rạc dẫn đến sự phát triển của nông nghiệp, nhất là nông nghiệp sạch bền vững còn chưa tương xứng với tiềm năng của ngành này tại Việt Nam. Chúng tôi hi vọng các doanh nghiệp khởi nghiệp và các cơ quan quản lý sẽ chia sẻ mối quan tâm này, tăng cường sự liên kết ngành để tạo nên nhiều đột phá, xứng đáng với sự quan tâm, kỳ vọng đối với nông nghiệp nước nhà trong tương lai gần.

PV: Cảm ơn bạn về cuộc phỏng vấn này! 

Hồng Ngọc 

 



Foto- songhuuco.vn

Quảng cáo

Foto- songhuuco.vnFoto- songhuuco.vn


Sống hữu cơ fanpage

Foto- songhuuco.vn

Bài đọc nhiều nhất